Doanh nghiệp bị khóa mã số thuế và gian nan hành trình khôi phục

Doanh nghiệp bị khóa mã số thuế và gian nan hành trình khôi phục

Nguyễn Hoàng Hải(*) – Lê Thị Thủy(**)

Trong quá trình hoạt động nhiều doanh nghiệp bỗng dưng lại nhận thông báo bị khóa mã số thuế hoặc truy cập vào trang thông tin điện tử của tổng cục thuế(1) thì thấy cơ quan thuế chuyển trạng thái của doanh nghiệp sang “ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế”. Nguyên nhân là do trong quá trình hoạt động doanh nghiệp đã có những vi phạm về thuế nên bị khóa mã số thuế, khi đó mã số thuế sẽ ở trạng thái “ngừng hoạt động”. Mã số thuế là “trái tim pháp lý” của doanh nghiệp, một khi mã số thuế bị ngừng hoạt động thì toàn bộ các vấn đề về pháp lý của doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng và theo đó hàng loạt hệ quả xảy ra: doanh nghiệp không được phát hành hóa đơn, không gia hạn chữ ký số, không nộp được tờ khai thuế, chi phí và tiền thuế đầu vào của hàng hóa mua vào trong thời gian bị khóa mã số thuế sẽ không được khấu trừ,… Khóa mã số thuế là việc cơ quan thuế tạm thời ngưng hiệu lực của mã số thuế trong một thời hạn nhất định cho đến khi doanh nghiệp khắc phục vi phạm. Mục đích của việc khóa mã số thuế là việc cơ quan thuế thực hiện chế tài nhằm buộc doanh nghiệp lập lại trật tự, tuân thủ pháp luật về thuế và khắc phục những lỗi vi phạm hành chính. Khi doanh nghiệp đã khắc phục những vi phạm thì cơ quan thuế sẽ khôi phục tình trạng hoạt động của mã số thuế. Khi đã được mở tức khôi phục tình trạng hoạt động mã số thuế sẽ chuyển từ trạng thái “ngừng hoạt động” trở về trạng thái “đang hoạt động”.

Vì sao doanh nghiệp bị khóa mã số thuế?

Những trường hợp mà doanh nghiệp bị khóa mã số thuế thường là: (i) Không hoạt động tại địa điểm đăng ký như không treo bảng hiệu, cơ quan thuế có những bằng chứng cho thấy doanh nghiệp đăng ký nhưng không hoạt động tại địa chỉ đăng ký; (ii) Không nộp tờ khai báo cáo thuế hàng tháng, hàng quý, hàng năm theo quy định; (iii) Cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh đã gửi thông báo nhưng vẫn không liên lạc, không nhận được phản hồi từ phía doanh nghiệp (iv) Doanh nghiệp bị nợ thuế và cơ quan thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định tại Chương XIV Luật Quản lý thuế; (v) Bị cơ quan có thẩm quyền có văn bản hủy thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn khôi phục mã số thuế thì phải có đơn và các tài liệu liên quan nộp cho cơ quan quản lý thuế trực tiếp.

Thủ tục khôi phục mã số thuế: Doanh nghiệp bị khóa mã số thuế phải chứng minh như doanh nghiệp đang hoạt động

Thủ tục khôi phục mã số thuế được quy định tại Mục 5 Thông tư 86/2024/TT-BTC (“Thông tư 86”) đó là (i) Doanh nghiệp có văn bản đề nghị khôi phục mã số thuế; (ii) Sau đó cơ quan thuế lập danh sách các hồ sơ khai thuế còn thiếu, tình hình sử dụng hoá đơn, số tiền thuế và các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước phải nộp hoặc còn nợ và thực hiện xử phạt đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, hoá đơn tính đến thời điểm người nộp thuế nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế theo quy định; (iii) Đồng thời thực hiện xác minh thực tế tại địa chỉ trụ sở kinh doanh. Tại điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư 86 quy định trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế của doanh nghiệp thì cơ quan thuế lập danh sách các hồ sơ khai thuế còn thiếu, tình hình sử dụng hóa đơn, số tiền nợ thuế và các khoản thu khác.

Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan thuế yêu cầu doanh nghiệp phải có đầy đủ các điều kiện như doanh nghiệp đang hoạt động: có trụ sở, treo bảng hiệu tại nơi đăng ký trụ sở và đáp ứng những điều kiện khác (có bàn ghế, nhân sự, hàng hóa mua vào,…) thì mới khôi phục mã số thuế bị khóa. Những yêu cầu như vậy là rất vô lý và “làm khó” doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp bị khóa mã số thuế là doanh nghiệp bị trở ngại trong quá trình hoạt động do không tuân thủ các quy định của ngành thuế, giờ đây doanh nghiệp cần được khôi phục mã số thuế để hoạt động thì làm sao có sẵn các điều kiện như yêu cầu? Được khôi phục mã số thuế thì doanh nghiệp mới “sống lại” và trang bị các điều kiện cơ bản để hoạt động cũng như đáp ứng theo yêu cầu của cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh khi có hậu kiểm.

Có nhiều trường hợp doanh nghiệp đi thuê nhà để làm trụ sở, khi bị khóa mã số thuế thì hợp đồng thuê đã hết hạn thì lấy đâu ra địa chỉ để cơ quan thuế khảo sát, lúc đó doanh nghiệp buộc phải tìm một địa điểm khác trong khu vực cơ quan thuế quản lý để cung cấp hợp đồng thuê trụ sở cho cơ quan thuế và có địa chỉ trụ sở cho cơ quan thuế xác minh mới đầy đủ thủ tục khôi phục mã số thuế.

Xác minh địa chỉ trụ sở doanh nghiệp trước khi khôi phục mã số thuế: Không cần thiết

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư 86 về việc phối hợp giữa Cơ quan thuế và UBND cấp xã nơi doanh nghiệp đặt trụ sở để tiến hành xác minh địa chỉ trụ sở đã đăng ký hoặc trụ sở mới của doanh nghiệp. Quy định thì đơn giản như vậy tuy nhiên thực tiễn việc xác minh mất nhiều thời gian không cần thiết cho cả cơ quan thuế, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Thực chất của việc xác minh trụ sở doanh nghiệp là cơ quan thuế cử cán bộ thuế phối hợp với cán bộ cấp xã nơi doanh nghiệp đặt trụ sở lập biên bản ghi nhận “doanh nghiệp có treo bảng hiệu”. Theo quy định tại Thông tư 86 thì biên bản xác minh này phải có trong hồ sơ khôi phục mã số thuế.

Ngoài ra, với nhiều nguyên nhân khác nhau mà doanh nghiệp không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký mà chuyển dời sang một địa chỉ khác để hoạt động nhưng chưa thông báo với cơ quan thuế thì vấn đề sẽ phức tạp hơn đó là cần có sự phối hợp giữa cơ quan thuế ở địa bàn mới và địa phương nơi có trụ sở mới khi xác minh địa điểm đăng ký đặt trụ sở mới. Cơ quan thuế ban đầu không thể xác minh tình trạng hoạt động của doanh nghiệp ở địa chỉ mới, vì đó là địa bàn của cơ quan thuế mới thì cơ quan thuế nơi doanh nghiệp có địa chỉ cũ phải ủy nhiệm cho cơ quan quản lý thuế ở địa chỉ mới xác minh hộ. Vấn đề được xử lý lòng vòng từ cơ quan thuế địa bàn cũ qua cơ quan thuế địa bàn mới và chính quyền địa phương ở địa bàn mới rồi mới gửi kết quả về cho cơ quan thuế ban đầu. Đây là thực trạng phổ biến trong thực tiễn mà rất nhiều doanh nghiệp bức xúc với thủ tục này. Đã có doanh nghiệp mất hơn 2 năm chỉ để làm mỗi một việc khôi phục mã số thuế, còn trên thực tế từ 1 tháng đến 6 tháng mới xong thủ tục này, trong khi quy định tại Thông tư 86 chỉ có 10 ngày làm việc, thủ tục này quá mất thời gian trong khi thành lập doanh nghiệp mới hiện nay chỉ mất 3 ngày làm việc.

Chưa kể thêm một quy định “không hợp lý” xuất hiện khi thực hiện giải thể doanh nghiệp. Có thể hiểu giải thể là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, không còn hoặc không đủ điều kiện để tồn tại như một chỉnh thể nữa. Vậy khi doanh nghiệp bị khóa mã số thuế, nay muốn giải thể thì trước hết phải khôi phục mã số thuế tiến hành giải thể thì có cần thiết phải thực hiện xác minh địa điểm hoạt động đã đăng ký của doanh nghiệp không? Việc xác minh này có hỗ trợ gì cho việc giải thể? Có lợi cho doanh nghiệp về khía cạnh nào không? Hay là tạo thêm khó khăn cho doanh nghiệp phải bỏ ra khoản tiền thuê lại địa điểm cũ chỉ phục vụ cho mỗi việc xác minh của cơ quan thuế mặc dù sau khi xác minh xong thì doanh nghiệp cũng không hoạt động kinh doanh và không tồn tại. Cách làm này mang tính đối phó với thủ tục hơn là thực chất.

Kiến nghị

Từ những bất cập nêu trên, có thể thấy rằng thủ tục khôi phục mã số thuế hiện nay không chỉ kéo dài về thời gian mà còn đặt ra nhiều điều kiện mang tính hình thức, chưa thực sự cần thiết, vô tình làm gia tăng chi phí tuân thủ và cản trở quá trình phục hồi hoạt động của doanh nghiệp. Do đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa và thực chất hóa thủ tục này là yêu cầu cấp thiết.

Trước hết, cần sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 19 Thông tư 86/2021/TT-BTC theo hướng loại bỏ yêu cầu bắt buộc phải xác minh thực tế địa chỉ trụ sở doanh nghiệp như một điều kiện tiên quyết để khôi phục mã số thuế, xem như doanh nghiệp vẫn còn ở địa chỉ cũ sau khi khôi phục mã số thuế doanh nghiệp cam kết có địa điểm và hoạt động tại địa điểm (cũ hoặc mới) để cơ quan thuế xác minh. Bản chất của việc khôi phục mã số thuế là nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp khắc phục vi phạm và quay trở lại hoạt động bình thường, do đó, trọng tâm cần đặt vào việc doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ kê khai, nộp thuế và chấp hành quyết định xử phạt hay chưa, thay vì các điều kiện mang tính hình thức như việc treo bảng hiệu hay bố trí cơ sở vật chất.

Theo đó, khi doanh nghiệp có đề nghị khôi phục mã số thuế, cơ quan thuế chỉ cần yêu cầu doanh nghiệp hoàn thiện các hồ sơ khai thuế còn thiếu, xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính và ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (nếu có). Sau khi doanh nghiệp hoàn tất nghĩa vụ này, mã số thuế cần được khôi phục ngay trong thời hạn ngắn, hợp lý (khoảng 3–5 ngày làm việc), thay vì kéo dài như thực tiễn hiện nay.

Bên cạnh đó, cần chuyển mạnh cơ chế quản lý từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Việc xác minh địa chỉ trụ sở, điều kiện hoạt động của doanh nghiệp nên được thực hiện sau khi mã số thuế đã được khôi phục, thông qua hoạt động kiểm tra, thanh tra của cơ quan thuế. Trong trường hợp doanh nghiệp tiếp tục vi phạm, cơ quan thuế hoàn toàn có đầy đủ công cụ pháp lý để áp dụng các biện pháp xử lý, bao gồm việc tiếp tục khóa mã số thuế. Cách tiếp cận này vừa đảm bảo hiệu lực quản lý nhà nước, vừa không làm gián đoạn cơ hội phục hồi của doanh nghiệp.

Ngoài ra, cần thiết lập cơ chế cảnh báo và hỗ trợ trước khi áp dụng biện pháp khóa mã số thuế. Cơ quan thuế nên tăng cường việc thông báo, nhắc nhở và tạo điều kiện để doanh nghiệp kịp thời khắc phục vi phạm, thay vì áp dụng ngay biện pháp mạnh. Điều này không chỉ thể hiện tính nhân văn trong quản lý mà còn góp phần giảm thiểu các tranh chấp và khiếu nại phát sinh.

Việc cải cách thủ tục khôi phục mã số thuế theo các định hướng nêu trên không chỉ phù hợp với tinh thần của Luật Doanh nghiệp về chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, mà còn thống nhất với chủ trương tại Nghị quyết 198/2025/QH15(2) về thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân. Quan trọng hơn, nó góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhanh chóng quay trở lại thị trường, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của nền kinh tế.


(*) Luật sư điều hành Công ty luật Credent

(**) Giám đốc Công ty tư vấn và kế toán Đông Dương

_____________________________

(1) https://tracuunnt.gdt.gov.vn/tcnnt/mstdn.jsp

(2) Khoản 4 Điều 9 Nghị quyết 198/2025/QH15

Chưa có đánh giá

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Anh Chị

Bài viết liên quan